Xơ vữa động mạch và vai trò của Statin.

I. CƠ CHẾ HÌNH THÀNH MẢNG XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH


Giai đoạn 1: Lớp nội mạc mạch bị tổn thương:

Nguyên nhân:

Stress oxy hóa (giảm NO → co mạch, tăng kết tập tiểu cầu, tăng viêm, tăng sinh tế bào cơ trơn mạch máu).

Rối loạn chuyển hóa lipid.

Đái tháo đường.

Thuốc gây tăng đường máu

1: Glucocorticoid


Tăng tạo đường mới tại gan bằng cách:

Tăng chuyển glycogen thành glucose.

Tăng ly giải protein tại cơ xương → giải phóng các acid amin và tăng ly giải lipid tại mô mỡ → giải phóng glycerol và acid béo tự do → cung cấp nguyên liệu cho gan tạo đường mới.

Tăng kháng insulin tại mô cơ và mô mỡ.

Những cặp tương tác thuốc nguy hiểm trên lâm sàng.

A. CƠ BẢN VỀ CYP3A4 và P-glycoprotein.


- Enzyme CYP3A4 là một trong các enzyme của hệ thống enzyme Cytochrome P450 (CYP450).

- CYP3A4 có nhiều ở gan và ruột, đóng vai trò then chốt trong quá trình chuyển hóa đầu tiên, quyết định sinh khả dụng của nhiều loại thuốc khi dùng đường uống.

- CYP3A4 xúc tác cho các phản ứng oxy hóa trong pha I của quá trình chuyển hóa thuốc, nhằm biến đổi các hợp chất hữu cơ kỵ nước thành các chất chuyển hóa dễ tan trong nước. Từ đó tạo điều kiện cho cơ thể đào thải chúng.

- CYP3A4 đôi khi cũng chuyển hóa các tiền chất thành dạng có hoạt tính, hoặc chuyển hóa một số chất khác thành metabolite có độc tính.

- P-glycoprotein (P-gp): P-gp là một protein xuyên màng, có chức năng như một bơm đẩy thuốc ra khỏi tế bào, có vai trò trong việc hấp thu thuốc tại ruột non và thải trừ thuốc tại thận.

Các tương tác thuốc qua CYP3A4 thường gặp:


- Thuốc ức chế CYP3A4:

Một thuốc (ví dụ: Clarithromycin) ức chế CYP3A4, khi dùng cùng thuốc (ví dụ: Simvastatin) chuyển hóa qua CYP3A4 sẽ làm tăng nồng độ thuốc (Simvastatin) trong huyết tương, gây quá liều và ngộ độc thuốc.

Thuốc ức chế CYP3A4 hay gặp nhất trên lâm sàng là kháng sinh nhóm Macrolid và thuốc kháng nấm nhóm Azole (Fluconazole, Imidazol, Triazol). Một số thuốc ức chế CYP3A4 yếu hơn là thuốc chẹn kênh calci, amiodarone, cimetidin, nước ép bưởi (grapefruit juice).

- Thuốc cảm ứng CYP3A4:

Một thuốc (ví dụ: Rifampin) cảm ứng CYP3A4, khi dùng cùng thuốc (ví dụ: Ethinyl Estradiol) sẽ gây cảm ứng mạnh Ethinyl Estradiol, tăng chuyển hóa estrogen, giảm nồng độ thuốc tránh thai, dẫn đến có thai ngoài y muốn.

Thuốc cảm ứng CYP3A4 hay gặp nhất trên lâm sàng là: Rifampicin, Phenytoin, Carbamazeoine, St John's  Wort.


Ngũ cốc nguyên hạt

I. CẤU TẠO


Ngũ cốc nguyên hạt là loại ngũ cốc chỉ được loại bỏ lớp vỏ trấu bên ngoài, giữ lại nguyên vẹn 3 thành phần: cám, mầm, nội nhũ.

Cám (Bran): lớp vỏ xơ bao phủ toàn bộ nhân hạt. Cám chứa nhiều chất xơ, vitamin nhóm B (niacin, folate, thiamin) và các khoáng chất thiết yếu như sắt, kẽm, selen, kali, magie, mangan, phốt pho.

Nội nhũ (Endosperm): là phần lớn nhất nằm bên dưới lớp cám. Nội nhũ chủ yếu chứa tinh bột, đóng vai trò là nguần năng lượng chính của hạt. Nội nhũ cũng chứa một lượng nhỏ protein, vitamin.

Mầm (Germ): là phần phôi hạt, có khả năng nảy mầm thành một cây ngũ cốc mới. Mầm chứa nhiều vitamin (đặc biệt là vitamin E), chất béo không bão hòa, protein và các chất dinh dưỡng thực vật tự nhiên.

II. SỰ KHÁC BIỆT GIỮA NGŨ CỐC NGUYÊN HẠT VÀ NGŨ CỐC TINH CHẾ:


1. Quá trình chế biến: ngũ cốc nguyên hạt chỉ loại bỏ lớp vỏ trấu, giữa nguyên lớp cám và mầm. Ngũ cốc tinh chế loại bỏ cả lớp cám và mầm, chỉ giữ lại nội nhũ.

2. Thành phần dinh dưỡng:

Ngũ cốc nguyên hạt giữ lại toàn bộ thành phần dinh dưỡng: chất xơ, vitamin nhóm B, sắt, acid folic, …

Ngũ cốc tinh chế mất đi phần lớn chất xơ, vitamin và các khoáng chất cần thiết.

3. Tác động đến đường huyết:

Ngũ cốc nguyên hạt có hàm lượng chất xơ cao, làm giảm tốc độ hấp thu đường vào máu. Giúp kiểm soát đường huyết và cân nặng tốt hơn so với ngũ cốc tinh chế.


SARS-CoV-2

I. PHÂN LOẠI


Corona virus là một họ gồm 7 loại có thể gây bệnh ở người:

  • 4 loại (HCoV-229E, HCoV-NL63, HCoV-HKU1, HCoV-OC43) gây cúm mùa thông thường.

  • SARS-CoV gây dịch SARS năm 2003.

  • MERS-XoV gây dịch MERS năm 2014.

  • SARS-CoV-2 hiện đang gây bệnh COVID-19.

Khai báo y tế

Khai báo y tế trên máy tính:


Từ trình duyệt truy cập vào link sau: Tờ khai y tế

Khai báo y tế trên điện thoại:


Tải app NCOVI về điện thoại:





SARS-CoV-2


Dinh dưỡng trong điều trị bệnh đái tháo đường

Chế độ dinh dưỡng cho người bệnh đái tháo đường dựa vào từng người bệnh cụ thể (cá thể hóa). Chế độ ăn cần góp phần kiểm soát đường máu và đảm bảo các sinh hoạt cần thiết cho người bệnh như một người không bị bệnh đái tháo đường:

- Bữa ăn đảm bảo đủ năng lượng và cân đối các thành phần dinh dưỡng.

Điều trị bệnh đái tháo đường

1. Nguyên tắc điều trị:


  • Ngăn chặn và làm chậm sự xuất hiện các biến chứng.

  • Ngăn chặn và làm chậm sự tiến triển các biến chứng.

  • Cải thiện triệu chứng nâng cao thể trạng.

Ngày đái tháo đường thế giới (14/11)

Insulin được 2 nhà khoa học Fred Banting và Charles Best tìm ra năm 1922, đây là thuốc duy nhất để điều trị bệnh đái tháo đường type 1 và bệnh đái tháo đường type 2 khi các thuốc uống hạ đường huyết không còn hiệu quả.

Để tưởng nhớ công lao của Fred Banting và Charles Best, Hiệp hội đái tháo đường thế giới (IDF) đã chọn ngày 14/11 hàng năm (ngày sinh của Fred Banting) làm ngày Đái tháo đường thế giới nhằm nâng cao nhận thức toàn cầu về bệnh đái tháo đường.

Campaign: Facebook | Twitter

Insulin

Insulin là hormon được tiết ra từ tiểu đảo Langerhan của tế bào beta đảo tụy, là hormon duy nhất trong cơ thể có tác dụng hạ đường máu.


1. Cấu trúc phân tử Insulin:

Cấu trúc phân tử Insulin

Kháng Insulin (Insulin Resistance)

Kháng insulin là hiện tượng giảm đáp ứng sinh học của Insulin với mô đích.


Nguyên nhân gây kháng Insulin:


Cơ chế đề kháng Insulin

Thuốc uống điều trị đái tháo đường type 2

Dựa vào cơ chế tác dụng, chia các thuốc uống điều trị bệnh đái tháo đường type 2 thành 3 nhóm lớn.


Nhóm kích thích bài tiết insulin:

  • Sulfonylurea.

  • Glinide.

  • Ức chế DPP-4.

Kháng sinh (antibiotic)

Phân nhóm dựa trên hiệu lực kháng sinh

Nhóm kháng sinh diệt khuẩn:


  • Beta lactam

  • Aminosid

  • Quinolon

  • Polipeptid

  • Sulfamid + Diaminopyrimidin

JNC 8 Hypertension Guidelines

Chữ viết tắt:

SBP = Systolic Blood Pressure = Huyết áp tâm thu.

DBP = Diastolic Blood Pressure = Huyết áp tâm trương.

BP = Blood pressure = Huyết áp

CKD = Chronic Kidney Disease = Bệnh thận mạn tính.

Hypertension: Tăng huyết áp

Diabetes = Bệnh đái tháo đường.

Thiazide-type diuretic = thuốc lợi niệu loại Thiazid.

CCB = Calcicum Channel Blocker = Thuốc chẹn kênh Calci.

ACEI = Angiotensin Converting Enzyme Inhibitor = Thuốc ức chế men chuyển Angiotensin.

ARB = Angiotensin Receptor Bloker = Thuốc khóa thụ thể Angiotensin.

Ống cổ tay (Carpal tunnel)

A. Cấu trúc giải phẫu ống cổ tay


Sơ lược về khối xương cổ tay


Khối xương cổ tay bao gồm 2 hàng xương nhỏ, mỗi hàng có 4 xương.

Tính từ ngoài vào trong

  • Bốn xương của hàng trên: xương xương Thuyền, xương Nguyệt, xương Tháp, xương Đậu (xương Đậu nằm ở mặt trước xương tháp và là chỗ bám của cơ gấp cổ tay trụ)

  • Bốn xương của hàng dưới: xương Thang, xương Thê, xương Cả, xương Móc.

Cấu trúc tĩnh mạch cửa

Hệ thống tĩnh mạch cửa dẫn về gan máu từ phần bụng của ống tiêu hóa (trừ hậu môn), lách, tụy và túi mật cùng các ống tiết của nó

Cấu trúc tĩnh mạch cửa

Tĩnh mạch mạc treo tràng dưới chạy lên, vượt quá lên trên điểm nguyên ủy của động mạch mạc treo tràng dưới để đổ vào tĩnh mạch lách ở sau tụy.

Tứ chi

TỨ CHI TỲ VỊ CHI MẠT

    4 tay chân là 4 ngành ngọn của tỳ vị. Nên gọi là Tứ Mạt.

TỨ CHI GIẢ, CHƯ DƯƠNG CHI BẢN

    4 tay chân là gốc của mọi khí dương

Tam thế y - Hậu thế tất hữu khanh tướng

3 đời làm thầy thuốc, con cháu đời sau ắt có kẻ làm đến khanh tướng.

(đời xưa ngôi đế vương là chuyên truyền trong 1 dòng họ, ngoài dân gian kẻ làm đến khanh tướng là cao sang tột bậc)

Nghĩa là đời cha làm thầy thuốc truyền cho đời con. Đến đời con làm thầy thuốc truyền cho đời cháu. Thế là 3 đời làm thầy thuốc. Làm thầy thuốc đã truyền cho nhau được đến 3 đời, chắc hẳn con cháu đời sau có kẻ làm đến khanh tướng.

Câu nói đó mới nghe qua tưởng dễ, nhưng xét kỹ nó có nhiều ý nghĩa:

  • Sự lưu truyền về nghề nghiệp đã phải làm sao cho phương dược linh nghiệm và công hiệu chính xác. Lại sự lưu truyền về lòng nhân đạo trong vấn đề cứu dân độ thế phải làm sao thật có tự đáy lòng mà liên tục không sơ hở, không gián đoạn.

  • Một đời làm thầy thuốc mà đầy lòng hiếu sinh chưa đủ, phải đến 3 đời mới mong có con cháu cao quan hiển hoạn. Như vậy sự tính lũy âm công đòi hỏi hằng sản, hằng tâm trong một thời gian lâu dài và quảng hậu mới mong.

Tam thời thuận dương

Hằng ngày thuận theo khí của 3 thời gian:

Sáng sớm, giữa ngày, chiều muộn.

Dương khí của người ta bao giờ cũng ảnh hưởng bởi dương khí của trời.

Sáng sớm (giờ Dần) khi mặt trời mới mọc, dương khí của trời đương lên thì dương khí của con người khi ấy cũng đang phấn khởi.

Giữa ngày (giờ Ngọ) khi mặt trời tới giữa trời, dương khí của trời cao tột độ, thì dương khí của con người khi ấy cũng đang thịnh.

Chiều muộn (giờ Dậu) khi mặt trời gần lặn, dương khí của trời đã giảm thiểu thì dương khí của con người khi ấy cũng hòa dịu.

Người ta có dương khí để ngoài thì bảo vệ bì phu, trong thì cổ vũ phần dinh dưỡng tinh vi. Tất cả để dưỡng thần, dưỡng khí. Nếu hành động quá mức thì dương khí suy yếu, cũng như hôm nào trời mây mưa thì mặt trời không sáng.